LÊ QUÍ BIÊN VÀ VIỆC XÉ HIẾN CHƯƠNG VŨNG TÀU
Nguyễn Tú A
Là người có gìong máu Việt, có 1 chút trình độ hiểu biết, có một chút nặng lòng với đất nước, trước những biến chuyển lịch sử xảy ra cho 2 chữ Việt Nam như Hoa Kỳ dựng lên 1 Ngô đình Diệm, dựng lên 1 Việt Nam Cộng Hòa. Và cũng chính Hoa Kỳ, vì quyền lợi của quốc gia họ, vì bản chất “độc tài” của những người lãnh đạo đối với các quốc gia đàn em lệ thuộc vào hoa kỳ, họ đã dàn xếp những cuộc đảo chánh, giết đi một vị tổng thống mà sau này lịch sử Việt Nam có thể gọi TT Diệm là người có lòng với đất nước, yêu tổ quốc, có trình độ cai trị….so với những người lãnh đạo Việt Nam sau này cho đến ngày Việt Nam Cộng Hòa tan rã.
Cũng những chữ “tay sai”, “bồi” “bù nhìn”…. Cho mẫu quốc Mỹ, nhưng những chữ này thời Ngô Đình Diệm còn có bóng dáng chữ “nhân vị” . Nghĩa là trong hòan cảnh không thể chọn lựa, người đóng vai tay sai, bồi hay bù nhìn, họ vẫn còn bản chất con người, một con người trí thức mang “nặng lòng” với đất nước Việt Nam. Giống Nguyễn Du chọn vai Thúy Kiều cho vai trò của ông, làm quan dưới triều ông không ưa thích, như Kiều vì hòan cảnh gia đình, vì địa vị nhỏ nhoi của mình trước xã hội, Kiều phải ra vào lầu xanh, vai người hầu, người tình. Nhưng đọc Kiều, người ta không nhìn Kiều là cô gái điếm. Lịch sửu không nhìn Ngô đình Diệm, dù ông do Mỹ tạo nên, lịch sử lại coi Ngô đình Diệm là bồi, là tay sai hay bù nhìn cho Mỹ.
Lê qúi Biên, sinh viên du học tại Pháp, thuộc thành phần đất nước gọi là “trí thức”, khi về nước sau những biến chuyển trong nước, sau những “phản bội” của người bạn thân, giết đi một Tổng thống do dân bầu, ông Biên thuộc thành phần này dù ông Biên bị nghi là thành phần họat động chính trị “hai mang”, “gián điệp nhị trùng”, v.v…. Ông Biên tham dự phong trào sinh viên chống chính phủ Nguyễn Khánh, xé hiến chương Vũng Tàu.
VÀI NÉT LỊCH SỬ THỜI ĐÓ.
Khi quân miến Bắc chiếm miền Nam, dinh Độc lập là biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa, cành đào tết của Hồ chí Minh tặng Ngô Đình Diệm qua một sĩ quan của Ủy hội Quốc tế Kiềm sóat đình chiến, vẫn được giữ lại trong dinh độc Lập. Cành đào này cũng đã có mặt ở dinh Độc lập qua nhiều chính phủ đã tham dự giết ông Diệm. Cũng có thể cành đào này là một trong những bằng chứng cho Mỹ thấy hai chính phủ là Hồ chí Minh và Ngô đình Diệm sửa sọan cho con đường bắt tay nhau để xây dựng một Việt Nam thống nhất. Hoa Kỳ không muốn chuyện thống nhất hai miến Nam Bắc thành một. Hoa Kỳ đang cần phải có một cuộc chiến, phải bành trướng một cuộc chiến để giải quyết bài tóan kinh tế đang tới giai đọan khủng hỏang như cuộc chiến Iraq hiện nay. Hãy tưởng tượng, nếu không có cuộc chiến tại Iraq, sự khủng hỏang kinh tế của Hoa Kỳ sẽ thảm bại như thế nào. Hàng hóa sản xuất không người mua, dân thất nghiệp sẽ cướp bóc, thực phẩm khan hiếm đắt đỏ như khủng hỏang kinh tế 1929-1933, một cơn ác mộng với người Mỹ. Trách Mỹ ư?-Không!. Vì nếu mình là Mỹ, mình cũng xử sự tương tự khi mình có những anh bồi, tay sai dốt, không nghĩ đến bạn bè, dân tộc. Trách ta?-Đúng!. Vì ta dốt và vì ta ích kỷ!.
Cuộc thống nhất Nam Bắc kiểu Ông Ngô đình Diệm với Ông Hồ chí Minh vào thời đó dĩ nhiên là quan điểm quá sớm. Ông Diệm ông Nhu chết vì chữ “quá sớm”. Nhưng sau đó, Đông Đức, Tây Đức trở thành một mà không do chiến tranh; Bắc Hàn Nam Hàn đang trên đường theo Đức, thì chuyện thống nhất kiều Ngô đình Diệm, Hồ chí Minh là chuyện có thể thành tựu nếu những nhân sĩ, quân sĩ dưới thời ông Diệm đủ trình độ hiểu đường con đường xây dựng một Việt Nam lý tưởng. Bây giờ cũng vậy, nhiều người vỗ ngực “phát huy” này nọ, nhiều khi, nhìn họ càng vỗ ngực, càng phát huy ; rồi nhìn vào mắt và thái độ người Mỹ trí thức, chữ Việt Nam càng bị tổn thương.
Việt nam do Pháp cai trị. Năm 1945, Pháp bị dân Việt nam chống lại, đòi dộc lập. Lực lượng mạnh nhất thời bấy giờ là mặt trận Việt Minh do Hồ chí Minh lãnh đạo.
Việt Nam lúc đó gọi là Quốc gia Việt nam do Bảo Đại làm quốc trưởng. Chánh quyền Bảo Đại yếu ớt, nên các quyền quan trọng đều do người Pháp nắm giữ như quân sự, tài chánh và ngọai giao.
Pháp thua trận Điện biên phủ, ký hiệp định Gevève, chia Việt Nam làm 2 ở vĩ tuyến 17, lấy con sông Bến Hải làm ranh giới. Miền Bắc do lực lượng Việt nam Dân chủ Cộng hòa kiểm sóat. Miền Nam do lực lượng Quốc gia Việt nam và lực lượng Liên hiệp Pháp kiểm sóat.
Do sự yêu cầu của Quốc gia Việt Nam và dàn xếp của Quốc tế, lực lương Liên hiệp Pháp rút về nước.
Theo hiệp ước quy định, dân chúng được đi lại tự do giữa 2 miền. Chính quyền 2 bên có 300 ngày để hòan thành việc tập trung dân chúng. Một triệu người miền Bắc chọn Quốc gia Việt nam bằng cuộc di cư 1954.
Năm 1955, sau cuộc trưng cầu dân ý, nhân vật Ngô đình Diệm được Mỹ đưa về nước, được dân miền Nam chọn. Thủ tướng Ngô đình Diệm truất phế quốc trưởng Bảo Đại, lên làm Tổng thống, đổi danh xưng từ Quốc gia Việt nam thành Việt nam Cộng Hòa, chọn ngày 26 tháng 10 làm ngày Quốc khánh. Việt nam Cộng hòa chủ trương đa đảng, kinh tế theo tư bản chủ nghĩa, do Mỹ đỡ đầu, bảo vệ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng tại Miền Nam.
Khi hiệp định Gevève thành lập, Quôc gia Việt nam đã không ký kết vào bản hiệp ước này vì lực lượng quá nhỏ. Hiệp định Genève qui định sẽ có cuộc tổng tuyển cử để thống nhất 2 miền trong 2 năm sau đó. Vì Quốc gia Việt nam không ký trong bản hiệp định Genève và vì Tổng thống Mỹ lúc đó là Eisenhower cho rằng Hồ chí Minh nắm được khỏang 80% phiếu bầu nên chính quyền Quốc gia Việt nam cự tuyệt cuộc Tổng tuyển cử. Giấc mộng thống nhất của Hồ chí Minh thất bại và chiến tranh Nam Bắc khởi sự từ nguyên nhân sâu xa này.
Thời Tổng thống Ngô đình Diệm, chính quyền theo chủ nghĩa Cần lao Nhân vị. Ngô đình Diệm chỉ tin người trong gia đình, nên chính quyền trở thành gia đình trị. Quyền hành chia cho người trong gia đình nên không bao lâu tạo mâu thuẫn nội bộ. Ý niệm về cai trị và phục vụ người dân còn sơ đẳng, tướng mỗi vùng là người trong gia đình và trở thành con cọp của từng vùng. Chức tước cai trị được mua bán gần như công khai.
Những năm 1955 đến 1959, chủ nghĩa Cộng sản bành trướng, Mỹ lo ngại cho sự bành trướng. Tổng thống Diệm lo ngại Cộng sản miền Bắc nên đã thực hiện nhiều cuộc đàn áp Cộng sản, tố cộng, diệt Cộng trên tòan lãnh thổ miền Nam (luật 10/59).
1961, đảo chánh lần thứ nhất. Hụt.Cuộc đảo chánh hụt này báo chí cho rằng Pháp đứng đằng sau lưng. Pháp muốn ảnh hưởng trở lại Việt nam và trung lập hóa vùng Dông Dương.
Phật Đản 1963, việc cấm treo cờ Phật giáo nhân lễ Phật dản đã làm dân Huế phẩn nộ. Tiếp theo các cuộc đàn áp mạnh mẽ và thiếu tế nhị vì cho rằng các cuộc bạo động do Cộng sản đứng sau giựt giây. Việc thượng tọa thích Quảng Đức tự thiêu giữa đường phố Sàigon và bà Ngô đình Nhu, tức dân biểu Trần lệ Xuân tuyên bố với báo chí ngọai quốc là một cuộc “barbecue” khiến chính phủ Ngô đình Diệm bị đả kích kịch liệt và mất ủng hộ từ phương tây.
Những quốc gia nghèo, thiếu hiểu biết tình “ruột thịt” của các quốc gia đàn anh như Nga như Mỹ, người trong nước thường chia rẽ, cấu xé nhau vì quyền lợi, bên cạnh các chính phủ, luôn luôn có các lực lượng chống lại. Những lực lượng chống đối mạnh ở những quốc gia này đều dùng tên giống nhau là “Mặt trận giải phóng quốc gia”. Thủ tướng Nga, Khrushchev hứa sẽ ủng hộ các cuộc chiến giải phóng quốc gia này. Lời hứa làm cho Cộng sản miền Bắc dười sự lãnh đạo của Hồ chí Minh bành trướng chiến tranh với chủ đề Thống nhất quốc gia.
Ngày nhậm chức 20-1-1961 của Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là Tổng thống John Kennedy, trả lời Khrushchev và làm cho đồng minh, trong đó có Tổng thống Ngô đình Diệm, vững tâm bằng tuyên bố “ …we shall pay any price, bear any burden, meet any hardship, support any friend, oppose any foe, to insure the survival and the success of liberty”. Tạm dịch , chúng ta sẽ trả bằng mọi giá, chấp nhận vất vả, chấp nhận khó khăn, sẵn sàng giúp đỡ đồng minh, chống lại kẻ thù, để bào đảm sự tồn tại và thành công của tự do…
Sau lời tuyên bố của TT kennedy, phó tổng thống Lyndon Johnson thăm và hứa với Tổng thống Diệm nhiều điều làm cho đồng minh tin tưởng vào Hoa kỳ. Sau chuyến viếng thăm Việt Nam, Hoa kỳ gởi 400 lính Mũ xanh (Green Beret) tới giúp Việt nam.
Khi 26,000 quân Cộng sản tấn công nhiều địa điểm tòa cõi Việt nam, Tổng thống Diệm xin Mỹ gởi thêm quân. Tháng 10, 1961, 8,000 quân Mỹ tới Việt Nam. Sau đó, tổng trưởng Quốc phòng Mỹ xin thêm 200,000 lính Mỹ.
Trước ngày Việt nam Cộng hòa kỷ niệm quốc khánh lần thứ 6, TT Kennedy gởi thư cho TT Diệm, hứa “ the United States is determined to help Vietnam preserve its independence…”. Dịch là nước Mỹ xác định giúp Việt nam để bảo tồn độc lập…
Giai đọan này, Cộng sản miền Bắc tăng cường xâm nhập. Phụ tà chính trị Ngô đình Nhu lập được 50 ấp chiến lược. Cộng sản chiếm các ấp chiến lược một cách dễ dàng và khủng bố dân làng bằng cách giết các trưởng ấp, thầy giáo….
TT Diệm ra lệnh thả bom vùng nghi có Cộng sản. Dân chết nhiều nên sự chống đối của dân lại càng tăng.
Trận chiến Ấp Bắc của 350 lính Cộng sản tấn công tính chiếm đài phát tuyến do Mỹ trang bị và bảo vệ, làm 3 lính Mỹ chết, báo chí Mỹ đăng lớn vụ này.
Khỏang đầu năm 1963, việc chia quyền và cai trị quốc gia được tái phối trí. TT Diệm chỉ đặt trọng tâm vào bảo vệ dinh Độc lập, tránh các vụ đảo chánh, nên lựa những thành phần thân tín cai trị mà không dựa vài tài năng của người được chọn.Chức trong chính quyền buôn bán càng lộ liễu.
Lễ Phật đản tại Huế, chính phủ cấm treo cờ Phật giáo. Khi có biểu tình, cảnh sát Huế bắn chết 1 đàn bà và 8 con nít lại làm cho tình hình căng thẳng. Qua đến tháng 8, 1963, nhiều sư tự thiêu, sự căng thẳng lên cao. Bàn thờ Phật để ngòai đường phố. Ngô đình Nhu ra lệnh giải tán bàn thờ bầy trên đường phố ở Saigon, Huế và các tỉnh. Vợ ông Nhu, tức dân biểu Trần Lệ Xuân, trả lời trên truyền hình Mỹ, gọi những vụ tự thiêu của sư sải Phật giáo như là những vụ “barbecue”, có thể bà Nhu không biết rõ nghĩa của chữ Barbecue hay bản tính kiêu căng, càng làm cho tình hình căng thẳng hơn. Các giới chức tòa Bạch Ốc tập trung vào việc áp lực TT Diệm phải cải tổ bộ máy chính quyền.
4 tháng 7, 1963, tướng Trần văn Đôn, một Phật tử, liên lạc với CIA ở Sàigòn về âm mưu đảo chánh.
26 tháng 8, 1963, người có biệt hiệu là “chuyên viên đảo chánh các chế độ do Mỹ tạo ra không còn được lòng Mỹ”, Đại sứ Henry Cabot Lodge tới Việt nam. Theo lệnh Washington, Cabot Lodge ra lệnh TT Diệm đuổi ông Nhu và cải tổ chính quyền. TT Diệm “ngạo mạn” từ chối thảo luận vấn đề này với Cabot Lodge. Lodge báo cáo với Washington. TT Kennedy cho Cabot Lodge tòan quyền quyết định (a free hand to manage the unfolding events in Saigon).
Đầu tháng 10, TT Kennedy gởi “message” cho đại sứ Cabot Lodge, ông Lodge nghĩ rằng TT ra lệnh tổ chức đảo chánh ngay. Một tài liệu chiến tranh Việt Nam viết rằng CIA Mỹ đã chi ra $50,000 để thưởng cho nhóm quân nhân khuyến khích họ đảo chánh ông Diệm. Ngày 5 tháng 10, 1963, ĐS Lodge điện cho TT Kennedy là âm mưu đảo chánh .
Tướng Dương văn Minh liên lạc với Mỹ để biết chắc rằng sau khi đảo chánh, Mỹ vẫn giúp ông..
28 tháng 10, 1965, ĐS Cabot lodge báo cho White House biết âm mưu đảo chánh sẵn sàng, diễn ra bất cứ lúc nào.
Sáng 1 tháng 11, 1963, ĐS Lodge gặp TT Diệm lúc 10 giờ sáng. Ngồi với TT tời trưa tại Dinh Độc lập. Lúc 1:30 trưa, đảo chánh bắt đầu, vào lúc dân Sàigon có thói quen ngủ trưa. Quân đội bao vây dinh độc lập, chiếm bộ tư lệnh cảnh sát. TT Diệm và bào đệ là ông Nhu bị lọt bẫy và từ chối đầu hàng. TT Diệm có gọi cho ĐS Cabot Lodge. ĐS trả lời là lúc đó, 4:30 sáng Washington, không ai có thể xem xét vụ này.
Đến 8 giờ tối, TT Diệm và ông Nhu trốn ra khỏi dinh Độc lập. đến nhà một thương gia người Trung hoa an tòan.
Những người âm mưu đảo chánh biết tin này, do một phụ tá TT Diệm phản bội tiết lộ. Sau này báo chí Sàigòn nói người cho tin hội đồng Quân nhân chỗ trốn của TT Diệm và ông Nhu là ông Trần thiện Khỉêm, thủ tướng sau này. Cuộc săn lùng anh em TT Diệm bắt đầu. Đến 6 giờ sáng, TT Diệm điện thọai cho các tướng lãnh. Theo tài liệu chiến tranh Việt nam do một cựu CIA viết, tướng Tôn thất Đính, người nhận TT Diệm là cha nuôi, người mang lon tướng trẻ nhất Việt Nam, khi trả lời TT Diệm, tướng Đính đã gọi ông Diệm là “Son of the bitch” (thằng chó đẻ), thêm vài chữ “đù”, và từ chối nói chuyện với TT Diệm. Thấy không thể thay đổi tình hình, TT Diệm sau khi dự thánh lễ, xưng tội, chịu mình thánh và xin đầu hàng từ trong nhà thờ cha Tam, Chợ Lớn. Hai người được dẫn vào xe bọc sắt và sau đó, trên đường về bộ Tổng tham mưu, xe ngừng lại, Tổng thống và bào đệ bị đâm chết.
Tại tòa Bach ốc, một cuộc họp về tin TT Diệm bị giết. Theo nhân chứng buổi họp, TT Kennedy khi nghe tin TT Diệm bị giết, TT Kennedy mặt trắng bệch, rời khỏi phòng họp và nói là “tôi nghĩ rằng chúng ta hòan tòan trách nhiệm trong vụ này” (I feel that we must bear a good deal of responsibility for it). Hai mươi ngày sau đó, 22 tháng 11, TT Kennedy bị bắn chết ở Dallas.
Sau cuộc đảo chánh, khi Sàigòn ăn mừng chiến thắng cách mạng thành công, Khi quân nhân nắm chính quyền, hòan tòan lệ thuộc vào Mỹ, tạo tình trạng bất ổn. Miền Nam Việt nam gần như vô chính phủ, trên bảo dưới không nghe. Tôn ti trật tự bị đảo lộn.Cộng sản lợi dụng cơ hội nào, chỉ vài tháng, 40% các vùng quê bị Cộng sản kiểm sóat.Chiến tranh Việt nam bùng nổ lớn. Mỹ đưa quân ào ạt vào Việt Nam.
30-1-1964, tướng Nguyễn Khánh “chỉnh lý” tướng Dương văn “Big” Minh và thanh trừng nội bộ, chấm dứt các vai trò tướng lãnh đảo chánh vì nghĩ rằng các tướng lãnh này theo đường lối trung lập, thân Pháp. Một số tướng lãnh bị bắt, giam ở Đà Lạt. Chỉ có thủ tướng Nguyễn ngọc Thơ được thả vào sáng hôm sau..
Việc làm của Nguyễn Khánh, các bình lậun gia cho rằng tướng Nguyễn Khánh đã sửa sọan cho Mỹ đem quân ào ạt vào Việt nam.
Ngày tiễn đưa Đại sứ Cabot Lodge về Mỹ, tướng Khánh tặng Cabot Lodge áo dài khăn đống. Với bộ áo thuần túy Việt nam, ĐS Lodge, người có biệt hiệu thủ tiêu nhiều lãnh tụ Quốc gia “ngây thơ”, tuyên bố, báo chí Việt nam đăng trang nhất: Ông Lodge nói, rời Việt nam ông có 2 điều cần ghi nhớ: Một, ông lấy làm tiếc đã không cứu được mạng 2 ông, Diệm và Nhu. Hai, kể từ nay, chính sách của Mỹ sẽ không tìm Cộng sản để tiêu diệt mà làm cho Cộng sản phải ngại ngùng và suy nghĩ mỗi buổi sáng, khi trở lại chiến trường.
Sau khi 2 anh em ông Diệm và ông Nhu bị giết, vị Tổng thống đầu tiên của Việt nam do Mỹ dựng lên, dân bầu qua tổng tuyển cử . Rồi lại do Mỹ chủ trương đảo chánh. Để lọai trừ hậu vận bằng giết cả anh em, người Việt nhớ lại những lời thế giới thường nói đùa là làm kẻ thù của Mỹ đỡ thảm bại hơn là làm bạn với người Mỹ. Câu nói của Đại sứ Cabot Lodge trở thành “nước mắt cá sấu”.
Ông Lê quí Biên từ Pháp về Việt nam trong giai đoan này. Ông Biên bị nghi là gián điệp 2 mang vì lúc này, chính phủ Pháp muốn trở lại Đông dương, muốn biến Đông Dưong gồm Việt, Miên, lào thành quốc gia trung lập.
Ngày 21 tháng 8, 1964, Phật giáo kêu gọi sinh viên, học sinh tụ tấp tại công viên chợ Bến thành để làm lễ tưởng niệm sinh viên Quách thị Trang. Ông Lê qúi Biên vẫn khoe rằng ông là người có công hướng dẫn đòan sinh viên, thanh niên này từ công viên Quách thị Trang đi vòng qua mấy đường lớn và tập họp tại số 7 đường Thống nhất, là dinh Thủ tướng để yêu cầu tướng Nguyễn Khánh từ chức. Giống như cảnh nhóm biểu tình trước tòa sọan báo Việt Weekly ngày 26 tháng 1, 2008. Biểu tình xong Việt Weekly, nhóm biểu tình kéo đến báo Người Việt.
Đòan biểu tình, trong đó có ông Biên, đòi gặp thủ tướng nguyễn Khánh. Ban đầu ông Nghiêm xuân Hồng nói thủ tướng đi vắng. Thấy không ổn, Nguyễn Khánh phải xuất hiện. Khi đòan biểu tình hô đả đảo Nguyễn Khánh, tướng Nguyễn Khánh cũng hô đả đảo. Đả đảo xong, tướng Nguyễn Khánh tuyên bố xé bản hiến chương Vũng Tàu. Hiến chương này do hội đồng tướng lãnh sọan thảo ở Vũng Tàu và xin từ chức. Sự từ chức này làm nhiều người tưởng lầm. Tưởng là Nguyễn Khánh từ chức là rời bỏ chính quyền. Thực ra, Nguyễn Khánh chỉ bỏ chức thủ tướng và lập ra chế độ Tam đầu chế (triumvirate). Thành phần cai trị quốc gia lúc đó, sau khi Nguyễn Khánh từ chức, xé hiến chương vũng Tàu, gồm tướng Nguyễn Khánh, tướng Minh và tướng Khiêm..
Đến ngày 20 tháng 12, 1964, tướng Khánh cùng 2 sĩ quan trẻ là Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu làm một cuộc đảo chánh nữa. Lần này chế độ Tam đầu chế mới gồm tướng Khánh và 2 sĩ quan trẻ là Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn văn Thiệu lọai bỏ tướng Dương văn Minh khỏi hàng ngũ chính quyền.
Đại sứ Hoa Kỳ Taylor, thay thế Cabot Lodge, gọi các sĩ quan mới làm xong cuộc đảo chánh là Nguyễn Khánh, Nguyễn cao Kỳ và Nguyễn văn Thiệu vào tòa đại sứ Mỹ, chửi như chửi con vì các ông này tiếp tục gây bất ổn và âm mưu tạo tình trạng nguy hiểm cho chính quyền miền Nam Việt Nam. Đại sứ Taylor cảnh cáo các sĩ quan trẻ là dân Mỹ và cả tôi đã mệt mỏi với các trò “chỉnh lý” lắm rồi.(nguyên văn: An angry Ambassador Taylor summons the young officers to the U.S embassy then scolds them like schoolboys over the continuing instability and endless intrigues plaguing South Vietnam‘s goverment. Americans, he had already warned them, are “tired the coups”.
Thái độ sỉ vả và khinh thường của đại sứ Taylor đối với các sĩ quan trẻ đang lãnh đạo quốc gia Việt Nam làm tướng Khánh tức giận. Tướng Khánh trả thù bằng cách chửi lại ĐS Taylor và nước Mỹ trên báo chí rằng nước Mỹ đã đưa lại cách đối xử man rợ của chủ nghĩa thực dân với nước Việt nam. (nguyên văn: Taylor’s behavior greadly offends the young officers. Gen. Khanh retaliates by lashing out in the press against Taylor and the U.S stating that America is reverting to “colonialism” in its treatment of South Vietnam).
Người Mỹ cho tôi cuốn sách “The Vietnam War”, hỏi tôi:
-Tôi nhìn ông Ngô Kỷ biểu tình trước báo Người Việt vì quá thương lá cờ; nhìn ông Phan kỳ Nhơn biểu tình trước Viet Weekly vì muốn bảo vệ chữ tự do, tôi không hiểu tại sao VNCH có những người chống Cộng như thế này mà Cộng sản miến Bắc lại có thể chiến thắng và chiếm được miền Nam?
(còn tiếp).